Yếu tố định hình nên một con người chính là tinh thần, là cảm xúc bên trong cũng như cách nhìn nhận về cuộc sống và mọi thứ đều xuất phát từ cái tâm bên trong của mỗi người. Tu tâm dưỡng tính không chỉ là nhiệm vụ tư tưởng mỗi người mà còn là mục tiêu giúp bản thân cảm nhận được giá trị của chính mình và ý nghĩa của cuộc sống.

Với sự tiến bộ không ngừng của xã hội và sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, cuộc sống của chúng ta đang thay đổi từng ngày. Xã hội con người bắt đầu trở nên khó đo lường hơn, nhân sinh quan cũng như thái độ tình cảm của con người trải qua nhiều thay đổi, nhịp sống tăng nhanh, mọi người phải chịu nhiều áp lực hơn, lâu dần sẽ nảy sinh những cảm xúc không tốt và nếu không thể cân bằng lại cảm xúc của mình, có thể bản thân sẽ suy sụp.

Hình dáng của chữ Tâm
Hình dáng của chữ Tâm

I. “Tâm” là “Trái tim”, “Bản chất” bên trong mỗi người

Chữ Tâm tiếng Trung là , là chữ tượng hình, là hình ảnh của 3 cuống tim, bên dưới là túi để chứa máu, để nhắc con người ra trước khi làm việc gì cũng nên xuất phát từ cái tâm, dùng sự lương thiên để cảm hóa mọi vật.

Khía cạnh cơ bản nhất của triết học là coi tinh thần là vấn đề của tâm trí chứ không phải tri thức, tức là về giá trị và ý nghĩa của con người chứ không phải mức độ hiểu biết về thế giới quan. Ngày nay, trí tuệ con người đã phát triển đến mức rất cao và đã có những thành tựu to lớn nhưng chúng vẫn không giải quyết được vấn đề về tâm lý, tình cảm, ý chí, nhu cầu, mục đích, đạo đức, thẩm mỹ… của con người và những vấn đề này lại là những giá trị cơ bản trong đời sống.

Vi thế, Tâm chính là bản chất bên trong của mỗi người, giúp thể hiện cảm xúc, tâm tư, hành động. Tâm là sự thống nhất giữa thể xác và tinh thần, “tâm là chủ của thể” và tâm bất ly thân. Cái tâm của con người là lấy tình cảm, ý chí, đạo đức, mỹ học làm yếu tố cốt lõi giống một triết lý sống để định hình nên con người.

II. Chữ “Tâm” biểu hiện như thế nào?

Quá trình học hỏi tâm trí là quá trình khám phá cuộc sống để chúng ta tìm được lý do sống hết mình, làm cho cuộc sống thú vị hơn, hạnh phúc hơn. Chỉ khi cái tâm được đánh thức, được thỏa mãn thì bản thân mới có thể trải nghiệm cảm xúc bất kể là vui vẻ, hạnh phúc hay bồn chồn lo âu của cuộc sống.

Tác động của cái tâm đối với mỗi người có thể theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực. Năng lượng tích cực sẽ giúp bạn vượt qua khó khăn và thất bại một cách dễ dàng, cái tâm tích cực sẽ tạo động lực, hình thành mục tiêu, giúp rèn luyện sự kiên trì, có tình thương muôn loài và có lòng biết ơn. Nếu bạn nhìn mọi thứ bằng trái tim, bằng sự thật thì bạn cũng sẽ hiểu rõ bản chất của thành công, hạnh phúc, niềm vui, sự giàu có đều xuất phát từ trái tim của chính mình, giống như một kho báu có sẵn chỉ chờ được đánh thức.

Chữ tâm chính là ngọn đèn chỉ dẫn mỗi người cách suy nghĩ, ra quyết định và hành động. Thông qua cái tâm tốt, chúng ta mới có thể đưa ra những quyết định dựa trên đạo đức và giá trị tốt đẹp, đồng thời giúp chúng ta xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp với người khác, mang lại sự hài lòng và gây dựng niềm tin từ xã hội… Bằng cái tâm tốt của mình, chúng ta có thể phát triển bản thân bằng sự nhiệt huyết, tận tâm và đam mê.

Tóm lại, chữ tâm chính là nguồn lực tinh thần chi phối suy nghĩ, hành động trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Bức tranh thư pháp chữ “Tâm” sẽ nhắc nhở mỗi người về giá trị của bản chất bên trong, của tâm hồn, tinh thần, đạo đức trong chính mình.

1. Tâm trong Phật giáo

Tâm trong Phật giáo nguyên thủy do đức Phật Thích Ca thuyết là 6 căn: mắt,tai, mũi, miệng, thân và ý thức. Sự kết hợp của 6 căn này sẽ tạo thành tâm.

1.1. Tâm là 6 căn của con người

Phật giáo tin rằng mối quan hệ giữa bản thân mình và vạn vật là sự tương tác lẫn nhau của 6 căn, 6 thức và 6 trần.

  • 6 căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Mắt để nhìn, tai để nghe, mũi để ngửi, lưỡi để nếm, thân để cảm nhận, ý để phân biệt.
  • 6 thức là nhãn thức, nhĩ thức (nhận biết âm thanh), tỷ thức (nhận biết hương vị), thiệt thức (nhận biết mùi vị), thân thức (nhận biết cảm giác cơ thể) và ý thức (phân biệt, so sánh, đánh giá…).
  • 6 trần là sắc (màu sắc), thanh (âm thanh), hương (hương vị), vị (mùi vị), xúc (xúc giác cơ thể) và pháp (là cảm xúc, tư tưởng của thế giới quan ví dụ thiện, ác, tốt, xấu, sự thật, giáo lý, trật tự…).

6 căn là cơ quan sinh lý, sáu trần là thế giới vật chất, sáu thức là chức năng tâm lý, 3 cái này cấu thành vạn vật trong đó 6 căn sẽ cảm nhận 6 trần và sinh ra 6 thức. Hầu hết mọi người đều nghĩ rằng “sự tương tác của 6 căn” chỉ có chư Phật và Bồ Tát mới làm được, thực tế Kinh Hoa Nghiêm đã nói: “Không có sự khác biệt giữa tâm, Phật và chúng sinh”. Chúng sinh vốn đã có “sự tương tác của 6 căn” vì có người có thể nghe thấy âm thanh bằng mắt mà không cần dùng tai, mắt không mở thì cơ thể cũng cảm nhận môi trường, hay một người câm tuy không nói được nhưng vẫn hiểu được bằng cử chỉ tay chân…

“6 căn” là sự phối hợp không thể tách rời, ví dụ tai chợt nghe thấy gì đó thì mắt sẽ nhìn về hướng đó; những gì mũi không cảm nhận được thì dùng lưỡi để nếm thử; nếu nhìn thấy gì đó đẹp thì chân bước tới và tay sẽ nhặt; tay này bị đứt thì sẽ nhìn bằng mắt và dùng tay kia chạm vào… Do đó, sự hợp nhất của 6 căn sẽ hình thành nên tâm thức, bao gồm tư tưởng, suy nghĩ, hành động.

Thật không may, con người thích chuốc lấy nhiều rắc rối vì không biết vận dụng ốt “6 căn”. Ví dụ mắt thích nhìn màu đẹp, tai thích nghe âm thanh hay, mũi thích ngửi hương thơm, lưỡi thích nếm đồ ăn ngon, thân thích êm ái… Nếu làm theo thì sẽ sinh tham lam và dục vọng còn nếu không theo ý thì sẽ giận dữ, oán hận. Thực tế bản thân vạn vật không có đẹp, xấu, trong sạch hay dơ bẩn mà sự khác biệt đó thường xuất phát từ chủ quan của chính chúng ta, ví dụ có người ăn được sầu riêng, có người thì không.

Đức Phật ví bản thân chúng ta như một ngôi nhà, nếu tâm của bản thân không trị được ngôi nhà này và để cho 6 tên trộm như sáu căn tham lam vào ở thì sẽ không có bình an. Cách duy nhất là đánh thức cái tâm chân thiện mỹ để làm chủ 6 căn, biến chúng thành binh tướng của chính mình thì cuộc sống mới bình yên.

1.2. 4 tâm vô lượng

Tứ tâm vô lượng trong Phật giáo nghĩa là phát 4 tâm cao thượng của bản thân mình, là những phát tâm không thể đong đếm được. 4 tâm đó là: Từ, Bi, Hỷ, Xả.

  • Tâm Từ nghĩa là lòng nhân từ, lòng yêu thương, lòng tốt, sự quan tâm đến người khác giống như người thân của mình. Phát tâm Từ sẽ giúp bản thân nhẹ nhàng, chân thành, sinh thiện ý và có hành vi đúng mực.
  • Tâm Bi nghĩa là thương xót, cảm thông, rung động trước khổ đau của người khác. Phát tâm Bi sẽ giúp bản thân biết suy nghĩ và chia sẻ, đồng cảm, lắng nghe, biết xoa dịu nỗi đau.
  • Tâm Hỷ nghĩa là hoan hỷ, vui mừng với thành quả của người khác. Phát Tâm Hỷ để bản thân không ganh ghét, đố kỵ.
  • Tâm Xả nghĩa là buông bỏ, không cố chấp níu kéo bất cứ thứ gì. Phát tâm Xả để bản thân vớt dục vọng, không tham lam ích kỷ hay coi mình là trung tâm. Giữ tâm Xả để bản thân được bình thản, nhẹ nhàng trước sự vô thường của cuộc sống, cuộc sống là bể khổ nhưng vẫn ung dung tự tại, không muộn phiền hay bận lòng.

2. Tâm trong Nho giáo

Theo quan điểm của Nho giáo, trái tim là bản chất, bản chất là trời và trời là Đạo nên người ta nói “tâm là lý trí”. Tâm có thể tạo ra nhận thức, giác ngộ và cảm nhận vạn vật, tâm con người là tâm của trời đất. Những bậc thánh nhân là chỉ những người giữ được bản tâm, bản tính, giữ được “xích tử chi tâm”; còn phàm phu tục tử chính là những người sống cuộc đời phóng túng chạy theo vật dục bên ngoài, để mất bản tâm, bản tính mình.

Mạnh Tử có đề cập đến 4 thứ tâm:

  • Trắc ẩn chi tâm: Tâm trắc ẩn
  • Tu ố chi tâm: Tâm biết thẹn, ghét
  • Từ nhượng chi tâm: Tâm khiêm tốn nhường nhịn
  • Thị phi chi tâm: Tâm biết đúng sai

Ông xem 4 cái tâm ấy là 4 hạt giống của 4 đức là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí : “Tâm trắc ẩn là hạt giống của lòng nhân; Tâm biết thẹn, ghét là hạt giống của Nghĩa; Tâm khiêm tốn nhường nhịn là hạt giống của Lễ; Tâm biết đúng sai là hạt giống của Trí”. Nếu được vun bồi nhờ môi trường giáo dục thì sẽ phát huy mạnh lên thành 4 đức lớn, thành quân tử, nếu không được chăm sóc giáo dục thì 4 hạt giống sẽ hư hoại, sẽ thành tiểu nhân.

III. Làm thế nào để tu “tâm” tích “đức”?

Thanh lọc tâm trí của mình trước, tự khắc môi trường sẽ được thanh lọc theo. Tâm hồn bên trong của mỗi người là quan trọng nhất và chỉ khi tinh thần phối hợp nhuần nhuyễn với tri thức thì mọi suy nghĩ hành động sẽ thể hiện được giá trị của nó. Việc “tu tâm” được nhắc đến trong Phật giáo là để sửa chữa những sai lệch trong suy nghĩ, hành động và trong tâm hồn của bản thân: Thanh lọc tâm hồn trước, sau đó là thanh lọc suy nghĩ, lời nói và cuối cùng hành động tự nhiên sẽ được sửa chữa.

Mặc dù tư tưởng và tâm hồn của mỗi người được hình thành từ khi còn nhỏ, rất khó thay đổi nhưng không có nghĩa là không thể: Bằng giáo dục, bằng kiên nhẫn, mong muốn thì bản chất bên trong sẽ dần thay đổi hoặc dần được được đánh thức.

1. Hết mình, nhiệt tình thay vì phấn đấu

Chúng ta đã được cha mẹ kỳ vọng từ khi còn nhỏ rằng khi lớn lên sẽ có thể “vươn lên” một tầm cao nên chúng ta phải làm đủ mọi cách để tranh giành danh dự, uy tín, tài sản, quyền lực, địa vị, sự ủng hộ… Tất nhiên, không có gì sai khi phấn đấu để đạt được mục tiêu nhưng việc tự gây áp lực, thậm chí đàn áp người khác xuống để mình leo lên là vô đạo đức. Do đó, tốt hơn hết là thay vì phấn đấu bằng mọi giá hãy hành động bằng sự tận tụy cống hiến, hết mình với bản thân trong mọi việc.

2. Thay việc hưởng phúc bằng tích phúc

Theo quan điểm của Phật giáo, phước lành của một người là có hạn chế giống như tiền gửi trong ngân hàng chỉ có giới hạn dù nhiều tới đâu. Tài sản của một người được chia năm phần (5 họa): chính quyền thối nát, trộm cướp, ngập lụt, hỏa hoạn hoặc con cái hư hỏng.

Thời gian là vô tận và chúng sinh cũng vô hạn, miễn là trái đất còn thì chúng sinh còn. Tuy nhiên, bản thân trái đất là nguồn hữu hạn giống như phước, càng phung phí thì càng mất nhiều phước. Đây không chỉ là sự lãng phí vật chất mà còn là sự tổn hại đến tâm hồn và hậu quả cuối cùng do chính chúng ta gánh chịu.

3. Hãy tin vào nhân quả

Theo Phật giáo, “Nhân quả” ám chỉ mối quan hệ về thời gian, việc chúng ta làm bây giờ chắc chắn sẽ có hậu quả trong tương lai và việc chúng ta có bây giờ là kết quả của việc đã làm trong quá khứ. Người bình thường như chúng ta chỉ có thể nhìn, nhận biết và hiểu được nhân quả của lịch sử, bởi vì dù tốt hay xấu thì chúng ta đều đang phải gánh chịu hậu quả của người trước.

Nho giáo nói: “Gia đình tích thiện thì lễ sẽ lâu bền”, nghĩa là nếu tổ tiên có đạo đức thì con cháu đương nhiên thịnh vượng; nếu tổ tiên không có đạo đức và làm nhiều điều xấu thì con cháu chắc chắn sẽ phải chịu đau khổ. Quan niệm này về nhân quả đôi khi đúng, đôi khi có vẻ không phù hợp với thực tế bởi vì một số gia đình làm việc tích đức nhưng không có con cái… nhưng trong Phật giáo có khái niệm “Tam giới”, về kiếp trước kiếp sau.

Đối với người bình thường hoặc không phải là Phật tử, hãy coi nó như niềm tin, từ góc độ của niềm tin thì sẽ là thực tế. Sự xuyên không về quá khứ, tương lai và hiện tại để giải thích nhân quả là hợp lý. Tóm lại mỗi người đều có nghiệp lực của chính mình, và điều quan trọng nhất là dựa trên cơ sở ấy để dốc hết những giá trị tốt nhất của mình vào hiện tại, đó cũng là cách tu tâm.

4. Có cái nhìn tích cực về cuộc sống

Đối mặt với môi trường mới và tình hình mới, chúng ta phải có những nhận định nghiêm túc và học cách chủ động đương đầu với thử thách, vượt qua khó khăn, có mục tiêu sống rõ ràng và ý nghĩa, duy trì trạng thái tích cực và lạc quan, tâm trạng vui vẻ và phấn khởi, tràn đầy hy vọng cho tương lai, khi gặp chuyện buồn thì kiềm chế cảm xúc một cách hợp lý.

5. Xây dựng lối sống lành mạnh

Một lối sống lành mạnh đề cập đến việc sống một cuộc sống có thói quen đều đặn, kết hợp làm việc và nghỉ ngơi, sử dụng bộ não một cách khoa học, kiên trì tập thể dục và chú ý đến vệ sinh.

6. Tham gia các hoạt động xã hội

*Tham khảo*

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

.
.
-->